Tin tức

Viêm màng bồ đào cấp tính ở trẻ em – Nguyên nhân và cách đề phòng

Viêm màng bồ đào cấp tính ở trẻ em là một bệnh mắt thường gặp và có thể dẫn đến mù lòa nếu như không được chẩn đoán sớm và điều trị đúng. Tỷ lệ viêm màng bồ đào ở trẻ em dưới 16 tuổi chiếm 5 – 10% các trường hợp viêm màng bồ đào. Viêm màng bồ đào cấp tính ở trẻ em có thể xảy ra ở màng bồ đào trước, màng bồ đào trung gian, màng bồ đào sau hoặc toàn bộ màng bồ đào.

Viêm màng bồ đào cấp tính ở trẻ em có thể kết hợp với viêm nhiễm toàn thân như viêm khớp tự phát ở trẻ em hoặc bệnh sarcoidosis ở trẻ em.

Viêm màng bồ đào ở trẻ em thường tiên lượng xấu hơn ở người lớn do việc phát hiện, điều trị muộn và hay tái phát.

  • Nguyên nhân:

Nguyên nhân gây viêm màng bồ đào có thể do nhiễm trùng bởi một chấn thương mắt, hoặc có thể do một bệnh tự miễn (đây là tình trạng do cơ thể nhận dạng sai lầm một số tế bào, cơ quan trong cơ thể và coi chúng như là những phần lạ, do đó sản sinh ra một chất gọi là kháng thể để chống lại tế bào và cơ quan đó).

Viêm màng bồ đào có thể hiện hữu một mình nó, hoặc đôi khi là dấu hiệu của những bệnh khác; ví dụ bệnh viêm khớp dạng thấp ở trẻ em. Nguyên nhân chính xác của viêm màng bồ đào ở trẻ em có khi không thể xác định được, tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng viêm màng bồ đào không phải là một bệnh lây lan từ trẻ này cho trẻ khác.

  • Những dấu hiệu nhận biết trẻ bị viêm màng bồ đào
  • Đau mắt hoặc đỏ mắt, chói mắt khi gặp ánh sáng, nhìn mờ, thấy những vệt lóe sáng trong mắt, đôi khi thấy những chấm đen bay lởn vởn trong mắt hoặc biểu hiện tình trạng 2 mắt bị lệch hướng (trong y học gọi là lé).
  • Viêm màng bồ đào có thể gây ra bệnh lý đục giác mạc, đục thủy tinh thể hoặc bong võng mạc khiến trẻ có thể bị mù. Hãy để ý đến dấu hiệu như trẻ cố tránh ánh sáng, rất cố gắng để nhìn cũng như để viết hoặc dấu hiệu 2 mắt nhìn lệch hướng. Khi phát hiện những dấu hiệu trên, nên đưa các em đi kiểm tra mắt ngay.
  • Chuẩn đoán và điều trị

Viêm màng bồ đào chỉ có thể được chẩn đoán và điều trị tại phòng khám chuyên khoa Mắt. Nếu trẻ đang được theo dõi và điều trị một bệnh lý về khớp hoặc một bệnh tự miễn khác, cần cho trẻ đi khám mắt định kỳ hoặc đưa trẻ đi khám mắt ngay khi ghi nhận có một trong những dấu hiệu đã nêu trên.

Trẻ sẽ được điều trị bằng thuốc nhỏ, uống, hoặc chích, đôi khi phải kết hợp nhiều dạng. Trẻ sẽ được dùng thuốc ức chế tình trạng viêm và sửa chữa hệ thống miễn dịch. Trẻ sẽ được dùng thuốc trong thời gian dài và được hẹn khám định kỳ để giảm liều thuốc cho đúng, giảm nguy cơ tái phát. Do đó, ở trường, trẻ cần có lịch dùng thuốc và điều này cần sự giúp đỡ của y tá trong trường.

  • Điều trị

Nguyên tắc chung

Tìm và điều trị nguyên nhân: Chống nhiễm khuẩn: kháng sinh tại mắt và toàn thân.

Điều trị sớm, tích cực ngay từ đầu.

+ Phối hợp điều trị chống viêm, chống dính, giảm phù.

+ Đề phòng biến chứng.

+ Phối hợp điều trị ngoại khoa khi cần thiết.

Điều trị cụ thể

Tại mắt.

+ Kháng sinh: tra 4-6 lần/ ngày.

  • Nhóm Aminosid: dung dịch tra mắt pha chế tùy nồng độ từng hãng.
  • Nhóm Quinolones.

+ Tiêm dưới kết mạc hoặc tiêm cạnh nhãn cầu nhóm Aminosid cách nhau 2-3 ngày.

+ Chống viêm: tra thuốc nước, thuốc mỡ. Thuốc steroid và không steroid, tra 5-6 lần/ ngày.

+ Thuốc giãn đồng tử : có tác dụng chống dính mống mắt và giảm đau do co thắt thể mi. Dùng atropin 1-4%. Trong trường hợp theo dõi thấy vẫn không tách dính được đồng tử thì cần tiêm (Atropin 0,25 mg và Adrenalin 1%) tách dính tại 4 điểm vùng rìa giác mạc (0,1 ml).

Toàn thân.

+ Kháng sinh: Uống, tiêm bắp hoặc tiêm truyền tĩnh mạch (tùy mức độ), liều lượng theo cân nặng của bệnh nhân. Điều trị theo kháng sinh đồ là tốt nhất.

  • Uống: Cephalosporin thế hệ 2.
  • Tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch chậm:

○ Nhóm Cephalosporin thế hệ.

○ Nhóm Aminosid.

○ Nhóm Glycopeptid.

+ Chống viêm: Các steroid là thuốc chính để điều trị viêm MBĐ, có thể uống, tiêm hoặc truyền tĩnh mạch, hoặc kết hợp cả 2 đường.

+ Giảm phù, vitamin tăng cường dinh dưỡng.

  • Tiến triển và biến chứng

Bệnh nhân đến sớm; chẩn đoán đúng và điều trị tích cực kịp thời thì tiên lượng tốt, bệnh có thể khỏi hoàn toàn.

Nếu đến viện muộn hoặc đã có biến chứng như:

+ Dính bít đồng tử; thoái hóa mống mắt.

+ Tăng nhãn áp (có thể thấy dấu hiệu mống mắt vồng múi cà chua do bít đồng tử  tiền phòng thường nông).

+ Đục thể thủy tinh, đục dịch kính thì tiên lượng xấu, có thể dẫn đến mù lòa.

  • Phòng bệnh

Điều trị sớm và tích cực các ổ nhiễm khuẩn tại mắt và toàn thân.

Khi có dấu hiệu đỏ mắt cần đi khám ngay ở các cơ sở chuyên khoa mắt.

  • Những điều cần làm để giúp trẻ điều trị bệnh

– Giảm tình trạng chói mắt ở trẻ bằng cách cho trẻ đeo kính che mắt và đội nón rộng vành khi ra ngoài trời, trong lớp học không nên cho trẻ ngồi đối diện cửa sổ, bố trí chỗ ngồi cho trẻ sao cho ánh sáng không chiếu trực tiếp vào bề mặt làm việc của trẻ, nên cho trẻ dùng giấy màu hơi xanh lá cây để giảm độ chói sáng từ giấy, khuyên trẻ nên nghỉ ngơi sau khi đọc, viết hoặc làm việc với máy vi tính.

– Cho trẻ đọc với chữ được in lớn hơn trên sách cũng như trên màn hình vi tính và giảm số lượng chữ in trên trang giấy, nếu cần có thể in tài liệu riêng cho trẻ.

– Dùng những đồ vật có độ tương phản rõ rệt cho trẻ dễ thấy, ví dụ như màu sắc sáng trên nền tối…

– Giảm số lượng bài tập cho trẻ.

– Khi trẻ chơi thể thao, cần cho trẻ đeo kính bảo hộ để bảo vệ mắt.

– Trong quá trình dùng thuốc, trẻ có thể thay đổi về thể chất và tính tình, trẻ dễ bị mập lên, mặt nổi mụn nhiều, tính tình dễ cáu gắt hơn… Trẻ rất dễ bị mặc cảm và xa lánh bạn bè.

– Nên tạo điều kiện cho trẻ được đi khám bệnh đúng lịch hẹn.